|
"In God we trust, all others must
bring data" – W.Edwards Deming (1900-1993)
Hiện tại chúng ta đã khá quen
thuộc với Y học Thực chứng hay Y học Dựa trên Bằng
chứng-“Evidence-Based Medicine”, vốn được coi như cột
chống trời của các thầy thuốc lâm sàng. Trong y học thực chứng, mức độ tin cậy
(chính xác) và mức độ bằng chứng (độ lớn, khả năng khái quát) của dữ liệu là
những tiếng nói quyết định đưa đến các lựa chọn trong chẩn đoán, điều trị, dự
phòng cho người bệnh. Song cũng dễ dàng để nhận ra các mặt hạn chế của y học
thực chứng, khi luôn có một khoảng cách không hề nhỏ giữa bằng chứng (cho phần
đông đối tượng tương tự) với thực tại (cho một cá nhân cụ thể). Không chỉ cần
chứng cớ mà còn cần xét đến hoàn cảnh1, khi áp dụng y học thực chứng, người thầy
thuốc thực sự luôn phải trăn trở tích hơp giữa những bằng chứng mạnh nhất từ
nghiên cứu, với khả năng phán đoán và phân tích (kinh nghiệm lâm sàng) của chính
mình cũng như dung hoà với cách nhìn nhận (thang giá trị) của người bệnh và
chuẩn mực (hiểu biết) xã hội. Trong thời đại mới, với những phát triển mới về
khoa học và công nghệ, liệu dữ liệu thông tin có đóng một vai trò như trong y
học thực chứng hay không? Nếu có khác biệt thì đâu sẽ là cơ hội và cái gì là
thách thức đối với tim mạch?
Dữ liệu
lớn
Khái niệm dữ liệu lớn –
“big data” lần đầu được đưa ra vào năm 2001, sau đó
được chỉnh sửa vào năm 2012, trong đó xác định các đặc tính (chiều) dữ liệu lớn
như dung lượng lớn (volume), vận tốc lớn (velocity), đa dạng
về cấu trúc (variety) và đa dạng về tính chân thực
(veracity).2 Bên cạnh lưu lượng khổng lồ ngày càng tăng, dữ liệu lớn
còn được bổ sung nhiều dạng dữ liệu mới như tín nhắn, các phương tiện mạng xã
hội, các dữ kiện từ cảm biến (từ xa, liên tục)… đòi hỏi rất nhiều công cụ và
cách thức phân tích mới để đào sâu tìm hiểu và đưa ra các thông tin hữu ích.
Thông tin y khoa với đặc thù lượng tin nhiều song phần lớn không có cấu trúc,
nay lại được bổ sung thêm rất nhiều các dạng thức dữ liệu mới thực sự trở thành
một dạng dữ liệu lớn đòi hỏi phải được quan tâm đúng mức. Áp dụng công cụ phân
tích dữ liệu lớn trong y tế, hồ sơ bệnh án điện tử cung cấp một cái đa chiều,
cho phép xác định những nhóm bệnh chi phí chăm sóc tố kém, xác định nguy cơ phải
tái nhập viện, nguy cơ mất bù để can thiệp sớm, chẩn đoán sớm (triage), xác định
nguy cơ xuất hiện các tác dụng phụ và để tối ưu điều trị cho các bệnh mạn tính
tác động trên nhiều cơ quan.3Chẳng hạn một cơ sở dữ liệu về bệnh mạch vành cho
phép xác định nhóm bệnh nhân nào chi phí điều trị lớn nhất trong khi kết cục lâm
sàng không tương xứng, khi nào nhóm bệnh mạch vành cấp dễ chẩn đoán sai, những
tác dụng phụ (như suy thận do thuốc cản quang…) hay xảy ra ở đâu, nguyên nhân
tái nhập viện vì mạch vành hay suy tim, nếu có thêm các bệnh mạn tính khác
(COPD, chẳng han) thì điều trị nào có kết cục lớn nhất, nếu ra viện được đeo cảm
biến nhịp tim, huyết áp… thì lúc nào cần xử lý gấp… Kết hợp những dữ liệu này
với các dữ liệu thời gian thực khác về quản lý (nhân lực, lịch làm việc, vật
lực…) nhà quản lý sẽ có thêm những cái nhìn đa chiều để tối ưu hoá nguồn lực và
đề xuất các giải pháp phù hợp cho từng nhóm bệnh nhân. Kết hợp với những dữ
liệu –omics mới như các thông tin biến đổi về chỉ điểm
sinh học, về bản đồ gen…, người thầy thuốc sẽ có thêm những giải pháp điều trị
hợp lý nhất dành riêng cho từng người bệnh, cá thể theo từng đặc điểm riêng biệt
của y học chính xác. Dữ liệu lớn vừa trở thành cơ hội, vừa trở thành thách thức
mới cho y học và hệ thống y tế nói chung, cho tim mạch học nói riêng, trong đó
bước đi cần thiết đầu tiên chính là xây dựng các cơ sở dữ liệu theo dõi dọc theo
thời gian (sổ bộ, registry) trên cơ sở hồ sơ bệnh án điện tử. Thách thức đối với
dữ liệu lớn sẽ là công cụ để thu thập (lý tưởng nhất là theo thời gian thực), để
quản lý (với không gian lưu trữ cực lớn, yêu cầu bảo mật cao) và nhất là công cụ
để phân tich và xử lý (dạng phân tích dự báo – predicitive
analysis)lượng lớn dữ liệu này.
Box 1. Hình dung thế nào là Big
Data
Y học chính
xác
Các phương pháp điều trị kinh
điển được nghiên cứu và xây dựng cho những người bệnh có nhiểm điểm trung bình
của từng bệnh: vì thế các phương pháp ấy có thể rất thành công cho một số lớn
người bệnh song có thể thất bại ở một số người khác. Y học Chính xác –
“Precision Medicine” ra đời, tính đến ảnh hưởng đến sự
khác biệt trên từng cá thể người bệnh về gen di truyền, môi trường, điều kiện
sống, đem lại cho người thầy thuốc những công cụ để hiểu rõ hơn các cơ chế tiềm
tàng phức tạp của bệnh tật, của các trạng thái sức khoẻ, từ đó dự đoán tốt hơn
những phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho riêng từng người bệnh.Những thành
tựu trong y học chính xác đã dẫn đến những phương thức điều trị vô cùng hiệu quả
được điều chỉnh tuỳ theo đặc điểm của từng cá thể người bệnh như đột biến gen
của các khối u định hướng lựa chọn điều trị tế bào đích trong ung thư, tạo ra
một sự lột xác toàn diện trong cách thức điều trị ung thư ngày nay, chẳng hạn
bệnh nhân ung thư vú, phổi, đại trực tràng, melanoma, leukemia... được xét
nghiệm phân tử định kỳ để lựa chọn các phương thức điều trị đích phù hợp cải
thiện rõ rệt sống còn và giảm đáng kể các tác dụng phụ của hoá trị liệu.Tiềm
năng của y học chính xác trong cải thiện chăm sóc sức khoẻ và tăng tốc phát
triển các phương pháp điều trị hiện đại chỉ vừa được hé lộ, mở ra một chân trời
mới cho các ngành mới “-omics”trong y học nghiên cứu
về gen và di truyền gen, về các phân tử (bao gồm các chỉ điểm sinh học, các
protein miễn dịch…), về tái tạo tế bào và mô… Chúng ta hãy thử tưởng tượng những
ứng dụng của y học chính xác trong tim mạch học, khi các công
cụ -omics (như gen hay chỉ điểm sinh học) cho phép lựa
chọn chính xác từng thuốc phù hợp để hạ huyết áp, chống đông, chống ngưng tập
tiểu cầu, hạ cholesterol máu... cho những nhóm người bệnh kháng clopidgrel, rối
loạn cholesterol máu gia đình, tăng huyết áp kháng trị... Nói về lịch sử, khái
niệm y học chính xác, hay việc lựa chọn các chiến lược điều trị và dự phòng bệnh
dựa trên từng đặc tính riêng của từng cá thể, không phải là quá mới: từ hơn một
thế kỷ này, người ta đã dùng nhóm máu để hướng dẫn việc truyền máu. Tuy nhiên
nhờ có những thành tự gần đây về các cơ sở dữ liệu y sinh lớn (như việc giải mã
bộ gen người), các phương pháp hiệu quả định dạng người bệnh (các ngành
-omics) cũng như các công cụ tính toán để phân tích số
lượng lớn dữ liệu “big data” thì triển vọng nâng tầm
khái niệm này lên thành một nền tảng y học mới trở thành rõ rệt. Ngày 20 tháng 1
năm 2015, ngày tổng thống Mỹ Barack Obama đã khai trương Sáng kiến Y học Chính
xác trong thông điệp liên bang có thể coi như một sự mở màn cho một nền tảng y
học mới.4Y học chính xác sẽ hỗ trợ (chứ không thay thế) y học dựa trên bằng
chứng nhờ các thành tựu trong lĩnh vực–omics cũng như
với các công cụ phân tích mô hình hoá dữ liệu mới. Cơ hội để dấn bước vào y học
chính xác chính là việc ứng dụng các chỉ điểm sinh học (vốn đã và đang được
nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong tim mạch) vào việc định hướng các chiến
lược điều trị trong các bệnh lý tim mạch cấp và mạn tính: chẳng hạn hướng dẫn
điều trị suy tim mạn tính bằng NT-proBNP/cystatin C, lựa chọn chiến lược can
thiệp trong hội chứng mạch vành cấp bằng Troponin và nhiều chỉ điểm sinh học
khác, sàng lọc rối loạn chức năng thất trái bằng BNP và
ST2…
Box 2. 10 xu hướng điều trị tim
mạch triển vọng nhất trong thập kỷ tới 5
Box 3. Các nghiên cứu nổi bật
nhất trong tim mạch năm 2014
Các thiết bị di
động
Trong những năm vừa qua, chúng ta
đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc theo cấp số nhân của công nghệ số qua các
thiết bị di động (viễn thông, điện thoại di động, internet di động..). Hiện ước
có tới 2 tỷ người đang sử dụng điện thoại di động thông minh (smart phone), ước
tăng tơi 4 tỷ người năm 2020. Số lượng các thiết bị bị di động (kể cả điện
thoại) tăng từ 16 tỷ lên đến 40 tỷ thiết bị năm 2020. Tốc độ truy cập dẫn truyền
di động tăng 12,000 lần khi chuyển từ mạng 2G lên 4G. Các thiết bị di động đã
trở thành vật bất ly thân trong đời sống hiện tại từ đó tạo ra nền tảng số cần
thiết cho các chăm sóc với người bệnh. Công nghệ số đãcho phép chuyển dạng chăm
sóc y tế từ những sự kiện rời rạc, biến cố cấp tính trở thành quá trình chăm sóc
sức khoẻ liên tục tiếp diễn nhờ (1) các thiết bị di động nhúng các ứng dụng hỗ
trợ và theo dõi quá trình luyện tập và thúc đẩy lối sống lành mạnh để dự phòng
bệnh tim mạch;(2) các thiết bị chẩn đoán tại chỗ (poin-of-care) cho phép định
hướng và chẩn đoán nhanh chóng các bệnh lý tim mạch cấp tính, tiếp cận được đến
các cơ sở y tế gần nhất với các trang thiết bị sẵn sàng; (3) các ứng dụng di
động hỗ trợ việc ra quyết định xử trí và điều trị triệt để (tính điểm phân tầng
nguy cơ, dự báo tử vong/biến cố tim mạch/tái nhập viện, so sánh các biện pháp
điều trị); (4) các ứng dụng nhắc nhở hỗ trợ việc chăm sóc, phục hồi chức năng
ngoại trú; (5) các công cụ theo dõi trên các thiết bị di động các thông số tim
mạch và sống còn từ xa (nhịp tim, huyết áp, cung lượng tim, bão hoà oxy…) để
hiệu chỉnh chế độ sinh hoạt, tái khám và điều trị ngoại trú… Từng cá nhân và
cộng đồng đã có thể chủ động tham gia tích cực chăm sóc sức khoẻ và bệnh tật cho
chính mình. Công nghệ di động số cũng đã tạo điều kiện hình thành và phát triển
các mô hình chăm sóc sức khỏe kiểu mới như chẩn đoán và điều trị từ xa
(telemedicine…). Bên cạnh việc số hoá các dữ kiện truyền thống (thông tin khám
lâm sàng, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh…) chúng ta cũng thấy một làn sóng các
dữ kiện kiểu mới, liên tục theo thời gian thực từ các cảm biến trên thiết bị di
động, với một số lượng thông tin khổng lồ. Hai đại gia trong làng di động đã ra
đời các đồng hồ đeo tay thông minh (Samsung và Apple Watch) với các cảm biến đo
nhịp tim, cảm biến đo độ cao, độ rung (để theo dõi hoạt động thể lực, chẩn đoán
sớm Parkison…). Trong tương lai không xa, khi các thiết bị này có thêm các cảm
biến khác như áp lực dòng máu (huyết áp, cung lượng tim), nồng độ đường máu… thì
nhanh chóng các thầy thuốc sẽ phải đối mặt với một khối lượng khổng lồ các thông
tin thu thập từng phút, thậm chí từng giây. Không còn đơn thuần là một con số,
các thông số thu được về biến thiên của các tham số này theo thời gian, hoàn
cảnh xuất hiện.. sẽ cung cấp cái nhìn nhiều chiều mới về bệnh lý (chẳng hạn như
biến thiên huyết áp trong kiểm soát và điều trị tăng huyết áp đơn thuần, tăng
huyết áp áo choàn trắng/xám, tăng huyết áp trơ…). Các thiết bị cấy ghép trong
người theo dõi liên tục nhịp tim, áp lực buồng tim, cung lượng tim… rồi truyền
ra ngoài theo đường tín hiệu wi-fi sẽ mở ra một cơ hội hoàn toàn mới trong điều
trị các bệnh lý tim mạch, khi thuốc điều trị ngoại trú hoà toàn được tinh chỉnh
dựa trên các cảm biến từ xa . Bên cạnh những thách thức phải đối mặt khi xử lý
một lượng lớn dữ liệu biến thiên trong thời gian thực cho các người bệnh cụ thể,
chúng ta còn thấy một sự dịch chuyển từ người có bệnh sang người tiêu dùng khoẻ
mạnh với một số lượng khổng lồ dữ liệu khác phục vụ cho quá trình dự phòng bệnh
tim mạch trong tương lai. Rõ ràng, tiếp cận với người bệnh tim mạch cần phải
thay đổi, cần phải tính đến tính liên tục trong chăm sóc sức khoẻ tim mạch bao
gồm tất cả các khia cạnh dự phòng, điều trị bệnh hoặc chăm sóc sau ra viện cũng
như khuyến khích người bệnh và người thân chủ động tham gia quá trình điều trị
nhờ các thông tin từ những dạng thiết bị này.
Mạng xã
hội
Bức thư điện tử (email) đầu tiên
gửi đi năm 1971 mở ra một thời đại kết nối con người bằng thông tin số. Hơn 40
năm sau, cơn lốc các mạng xã hội đã bao trùm tất cả,nhanh chóng bùng nổ để trở
thành công cụ chính kết nối tức thời các cá nhân với nhau: ước tính cứ 4 người
trên trái đất thì có 1 người sử dụng mạng xã hội; lớn nhất là Facebook với hơn
1,2 tỷ người dùng trên toàn cầu, sau đó là các dạng mạng xã hội khác như
MySpace, Twitter, LinkedIn, Flickr, YouTube… Mạng xã hội là công cụ trên mạng
Internet cho phép mọi người từ khắp nơi tương tác với nhau, thông qua thảo luận,
hình ảnh, video và âm thanh, nhờ đó mọi người có thể chia sẻ với nhau tạo ra thế
giới cởi mở và kết nối: mọi người dùng mạng xã hội để duy trì kết nối với bạn bè
và gia đình, để khám phá những gì đang xảy ra trên thế giới, và để chia sẻ và
thể hiện những vấn đề của họ…. Đứng trên phương diện các tổ chức chuyên nghiệp
(như bệnh viện), mạng xã hội là một công cụ hiệu quả để gắn kết mọi người trong
tổ chức, cải thiện mối quan hệ giữa tổ chức/cá nhân với khách hàng (ví dụ quan
hệ thầy thuốc-người bệnh..); phổ biến kịp thời những tin tức và nguồn lực quan
trọng đến một lượng lớn người nghe; nâng cao nhận thức về các vấn đề đang bàn
luận; và xây dựng và củng cố mạng lưới hợp tác; gỡ bỏ các rào cản tâm lý/vật lý,
cho phép tiếp cận nhanh chóng dễ dàng đến một nhóm người nghe (người bệnh)
chuyên biệt mà bình thường khó lòng tiếp cận. Rõ ràng, mạng xã hội cung cấp một
công cụ hết sức hiệu quả (tương tác hai chiều) trong truyền thông giáo dục sức
khoẻ, nâng cao nhận thức về bệnh tật, cải thiện gắn kết với điều trị…và cuối
cùng nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ (tim mạch). Trên phương diện cá nhân,
ngoài những một số tác dụng có hại (như gây nghiện, gây trầm cảm, lo lắng, rối
loạn cảm xúc…), mạng xã hội có thể coi như các cảm biến xã
hội - công cụ đầy hứa hẹn để thu thập các dữ kiện xã hội (môi
trường, lối sống, nguồn lực xã hội…) của từng cá thể, vốn rất quan trọng đối với
chăm sóc toàn diện mặc dù thách thức lớn nhất là cách khai thác hợp lý dạng dữ
liệu này do tính chất tự nhiên không có cấu trúc của chúng. Nghiên cứu mang tính
đột phát của Eichstaedt JC cho thấy khả năng dự báo tỷ lệ tử vong do các bệnh lý
vữa xơ động mạch của mô hình chỉ dựa vào ngôn ngữ thể hiện trên Twitter còn tốt
hơn hẳn so với mô hình dự báo kết hợp hơn 10 yếu tố dân tố, kinh tế xã hội và
nguy cơ tim mạch truyền thống như hút thuốc, tăng huyết áp, đái tháo đường và
béo phì.6Rõ ràng việc nắm bắt đặc điểm tâm lý cộng đồng thông qua các mạng xã
hội là hoàn toàn khả thi trong khi những đặc điểm lại là những chi điểm hữu hiệu
của tỷ lệ tử vong tim mạch tại cộng đồng.Với sự sẵn sàng của các thiết bị di
động thông minh cho phép kết hợp dữ kiện từ các cảm biến xã hội với các cảm biến
y sinh (có sẵn trên thiết bị) của từng cá thể7, dòng thác dữ liệu mới sẽ xuất
hiện tạo ra những không gian mới cho các ứng dụng chăm sóc sức khoẻ từ xa, kết
nối việc dự phòng tiên phát, xử trí bệnh cấp tính, điều trị bệnh mạn tính, phục
hồi chức năng tái hoà nhập cộng đồng, dự phòng thứ phát.. thành một chu trình
khép kín, liên tục và hiệu quả. Tuy nhiên khi tham gia hoạt động trên các mạng
xã hội, cần rạch ròi giữa tư cách cá nhân (như một người bình thường) với tư
cách một nhân viên y tế (Box 4).
Box 4: Các dạng hoạt động trực
tuyến của nhân viên y tế: lợi ích và nguy cơ.8
Những chuyên ngành phát triển
mạnh như tim mạch học đã và đang gây sức ép về thông tin lên mỗi chúng ta mỗi
ngày với hàng trăm, hàng ngàn thông tin mới được đăng tải, cập nhật, lan truyền,
khuếch đại và biến đổi theo cấp số nhân qua các báo chí trực tuyến, các trang
web, các mạng xã hội… Những dữ liệu ấy đòi hỏi phải được đánh giá, cân nhắc và
tích hợp vào thực hành lâm sàng hàng ngày để cất tiếng thì thầm khi chúng ta đối
mặt với người bệnh và đưa ra các quyết sách điều trị. Tiếng thì thầm ấy sắp
vang to thúc giục chúng ta nắm lấy cơ hội và tiến bước.
TS. Nguyễn Ngọc Quang - Bộ
môn Tim mạch ĐHY Hà Nội - Viện Tim mạch Việt Nam
Tài liệu tham
khảo
|


22:53
snell5coafa4892
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét