Gần
đây các trung tâm y học trên thế giới đã nghiên cứu và đưa vào ứng dụng nhiều
thăm dò gắng sức nhằm đánh giá khả năng hoạt động thể lực của bệnh nhân. Các
test hiện tại đang được áp dụng xếp theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp như
sau: leo cầu thang đi bộ 6 phút, đi bộ kiểu con thoi, nghiệm pháp gắng sức gây
cơn khó thở kiểu hen, nghiệm pháp gắng sức tim mạch và gắng sức tim
phổi.
Đầu
năm 1960, Balke đã đưa ra một phương pháp tương đối đơn giản: đo quãng đường tối
đa bệnh nhân đi được trong một khoảng thời gian xác định. Tại thời điểm mới đưa
vào áp dụng, khoảng thời gian này là 12 phút. Test được áp dụng đánh giá khả
năng gắng sức ở người khỏe mạnh và mức độ tàn phế ở bệnh nhân có bệnh phổi mạn
tính. Sau đó thời gian thực hiện test được điều chỉnh xuống 6 phút cho phù hợp
hơn với bệnh nhân có bệnh phổi mạn
tính.
Trong
một khảo sát gần đây về các phương pháp đánh giá khả năng gắng sức đã thống nhất
cho rằng: test đi bộ 6 phút là một thăm dò dễ áp dụng, bệnh nhân có khả năng
thực hiện và phản ánh tốt hơn hoạt động thể lực hàng ngày của bệnh nhân so với
các test gắng sức
khác.
Gần
đây Hội Lồng ngực Hoa Kỳ đã thống nhất áp dụng test đi bộ 6 phút trong thực hành
lâm sàng đánh giá khả năng hoạt động thể lực của bệnh nhân. Test đi bộ 6 phút có
một số ưu điểm như dễ thực hiện, an toàn, dung nạp tốt, phản ánh tốt hơn hoạt
động thường ngày của bệnh nhân so với các test đi bộ
khác.
Chỉ
định hàng đầu của test đi bộ 6 phút nhằm đánh giá sự cải thiện về triệu chứng
sau điều trị ở những bệnh nhân có bệnh lý tim mạch, hô hấp mức độ trung bình đến
nặng. Ngoài ra test có thể ứng dụng đánh giá khả năng hoạt động thể lực tại một
thời điểm, cũng như dự báo khả năng mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trong các nghiên
cứu dịch tễ
học.
Test
đi bộ 6 phút được coi như một thăm dò bổ sung cho thăm dò gắng sức tim phổi. Có
sự tương quan chặt chẽ giữa quãng đường đi được trong 6 phút so với lưu lượng
đỉnh tiêu thụ oxy trong thăm dò gắng sức tim phổi (r = 0,73) trên bệnh nhân có
bệnh phổi giai đoạn
cuối.
Trong
một số trường hợp quãng đường đi được trong test đi bộ 6 phút phản ánh tốt hơn
khả năng hoạt động thể lực hàng ngày so với chỉ số lưu lượng oxy tiêu thụ đỉnh
đo được trong test gắng sức tim phổi. Sự cải thiện về quãng đường đi được trong
6 phút sau can thiệp điều trị tương quan với sự cải thiện chủ quan mức độ khó
thở của bệnh nhân. Đồng thời test đi bộ 6 phút có mối tương quan tốt hơn với
thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống. Một ưu điểm khác là khả năng lặp lại
test đi bộ 6 phút dễ dàng hơn so với test đo lưu lượng đỉnh (hệ số tương quan
80/0 ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính). So với việc sử dụng bộ câu hỏi
đánh giá mức độ gắng sức test đi bộ 6 phút có sai số ít hơn khi theo dõi ngắn
hạn.
Test
đi bộ con thoi cũng tương tự test đi bộ 6 phút. Người tham gia sẽ đi xuôi ngược
trên một quãng đường 10m theo tín hiệu âm thanh điều khiển với tốc độ tăng dần
sau mỗi phút. Kết thúc test khi người tham gia không đi đến được đích trong một
khoảng thời gian nhất định. Cách thực hiện test đi bộ con thoi cũng tương tự như
test đi bộ trên thảm chạy. Ưu điểm của test đi bộ con thoi là tương quan với mức
độ tiêu thụ oxy đỉnh cao hơn so với test đi bộ 6 phút nhược điểm là khả năng ứng
dụng thực tế thấp, nhiều nguy cơ gây các biến cố tim
mạch
Bảng
1: Chỉ định của test đi bộ 6
phút
Đánh giá
hiệu quả của phương pháp điều
trị
|
Sau phẫu
thuật ghép phổi hoặc cắt
phổi
|
Phẫu
thuật làm giảm thể tích
phổi
|
Phục hồi
chức năng hô
hấp
|
Điều trị
nội khoa bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính
|
|
|
|
|
Đánh giá
triệu chứng cơ năng tại một thời
điểm
|
Bệnh
phổi tắc nghẽn mạn
tính
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Dự báo
khả năng nhập viện và tỷ lệ tử
vong
|
Suy tim,
bệnh phổi mạn tính hoặc tăng áp
phổi
|
Chống
chỉ định tuyệt
đối:
-
Tiền sử ĐTNKOĐ hoặc NMCT mới xảy ra trong vòng 1
tháng.
Chống
chỉ định tương
đối:
-
Nhịp tim lúc nghỉ >
120ck/p
-
Huyết áp tâm thu >
180mmHg
-
Huyết áp tâm trương >
100mmHg.
Đối
với những bệnh nhân có các chống chỉ định tương đối cần hỏi lại ý kiến bác sĩ
điều trị về chỉ định thực hiện test đi bộ 6 phút. Cần tham khảo kết quả điện tim
đã làm trong 6 thắng vừa qua của bệnh
nhân.
Không
có chống chỉ định thực hiện test đi bộ 6 phút ở bệnh nhân đau ngực ổn định. Tuy
nhiên bệnh nhân phải được dùng các thuốc giãn vành trước khi tham gia
test.
-
Địa điểm thực hiện test phải bố trí ở nơi có khả năng tiếp cận nhanh chóng với
các phương tiện cấp
cứu.
-
Thuốc và phương tiện cần có: oxy, nitroglycerin ngậm dưới lưỡi, aspirin,
albuterol xịt định liều hoặc khí dung, điện thoại gọi trợ giúp cấp
cứu.
-
Kỹ thuật viên hướng dẫn thực hiện test đi bộ 6 phút phải thành thạo các kỹ năng
hồi sinh tim phổi cơ bản, khuyến khích biết hồi sinh tim phổi nâng
cao.
-
Bác sĩ điều trị hoặc bác sĩ ra chỉ định không cần thiết phải có mặt trong khi
bệnh nhân thực hiện
test.
-
Trong trường hợp bệnh nhân đang duy trì oxy liệu pháp liên tục ở nhà, cần tiếp
tục cho bệnh nhân dùng oxy với liều tương tự hoặc theo chỉ định của bác
sĩ.
-
Lập tức dừng test đi bộ khi bệnh nhân có một trong các triệu chứng sau: (I)
đau ngực, (2) khó thở không dung nạp được, (3) chuột rút chân, (4) choáng, (5)
vã mồ hôi, (6) vẻ mặt tái
nhợt.
-
Kỹ thuật viên hướng dẫn thực hiện test phải có khả năng nhận biết các triệu
chứng trên và có khả năng xử trí kịp thời: dừng test, cho bệnh nhân ngồi hoặc
nằm nghỉ, đo các thông số mạch, huyết áp, SpO2, cho thở oxy nếu cần
thiết.
CÁC
LƯU Ý VỀ MẶT KỸ
THUẬT
Nơi
thực hiện test đi bộ là một hành lang dài, thẳng, bằng phẳng, vắng người qua
lại. Có thể tiến hành ngoài trời nếu điều kiện thời tiết cho phép. Lối đi nên
dài tối thiểu 30m. Đánh dấu điểm xuất phát bằng một đường kẻ đỏ đậm, đánh dấu
chia vạch mỗi 3 mét ở cuối lối đi nên cắm cột mốc báo hiệu vị trí quay
đầu.
Chiều
dài lối đi không nên quá ngắn vì bệnh nhân sẽ mất thời gian quay đầu nhiều do đó
sẽ làm ảnh hưởng đến quãng đường đi được. Đi bộ trên thảm chạy giúp tiết kiệm
không gian tuy nhiên không được khuyến cáo áp dụng trong test đi bộ 6 phút do có
nhiều yếu tố gây sai số. Trong một nghiên cứu trên các bệnh nhân có bệnh phổi
nặng quãng đường bệnh nhân đi được trên thảm chạy trong 6 phút ngắn hơn 14% so
với đi bộ trên hành lang do bệnh nhân không tự điều chỉnh được tốc độ bước đi
của mình. Đồng thời quãng đường đi được trên thảm chạy cũng có sự dao động rất
lớn (120m - 390m) giữa các bệnh nhân do không quen sử dụng thảm chạy so với
quãng đường đi được là 360m khi đi bộ trên hành lang. Vì vậy kết quả đi bộ 6
phút trên thảm chạy không thể thay thế cho kết quả đi bộ trên hành lang bình
thường.
1.
Đồng hồ đếm ngược 6
phút
2. Thiết
bị điện tử đếm số vòng đi
được.
3. Hai
cột mốc nhỏ để đánh dấu vị trí quay
đầu.
4.
Ghế ngồi cho bệnh nhân tại vị trí gần vạch xuất
phát
8.
Điện thoại liên lạc cấp
cứu
9.
Máy khử rung tự động
(AED)
1.
Trang phục nhẹ nhàng, dễ cử
động.
2.
Nếu bệnh nhân phải dùng gậy khi đi lại, vẫn cho bệnh nhân tiếp tục dùng gậy khi
thực hiện
test.
3.
Tiếp tục dùng các thuốc đang sử dụng hàng
ngày
4.
Có thể ăn nhẹ trước buổi test đầu giờ sáng hoặc đầu giờ
chiều
5. Bệnh
nhân không nên gắng sức mạnh trong vòng hai giờ trước khi thực hiện test đi
bộ.
Quy
trình thực hiện test đi bộ 6
phút
1.
Nếu làm test nhiều lần nên thực hiện vào cùng một thời điểm trong ngày để giảm
thiểu các sai số gây ra do nhịp ngày
đêm.
2.
Không cần có giai đoạn khởi động trướckhi thực hiện
test.
3. Cho
bệnh nhân ngồi nghỉ trên ghế gần vị trí xuất phát trước khi tham gia test 10
phút. Trong thời gian đó, kiểm tra lại các chống chỉ định, đo mạch, huyết áp,
trang phục hoàn thành đầy đủ các thông tin ở trang đầu của bảng
kiểm.
4.
Có thể đo bão hòa oxy mao mạch tại thời điểm trướckhi đi
bộ
5.
Cho bệnh nhân đứng dậy, đánh giá mức độ khó thở và mức độ mệt mỏi chung của bệnh
nhân tại thời điểm xuất phát theo thang điểm
Borg.
6.
Cài đặt thiết bị đếm số vòng đi được Ở giá trị 0 và đồng hồ đếm ngược ở giá trị
6 phút. Tập hợp tất cả các phương tiện cần thiết và đi đến vạch xuất
phát.
7.
Giải thích cách thực hiện test cho bệnh
nhân:
“Mục
tiêu của test đi bộ là bạn sẽ cố gắng đi bộ quãng đường càng dài càng tốt trong
vòng 6 phút. Bạn sẽ bắt đầu tại điểm xuất phát đi bộ đến vị trí cột mốc 30m, sau
đó nhanh chóng quay ngược lại và đi bộ trở lại vị trí xuất phát. Tiếp tục đi lặp
lại quãng đường vừa đi cho đến khi hết thời gian. Trong quá trình đi bộ, bạn có
thể tăng giảm tốc độ, có thể dừng lại nghỉ, nhưng cần nhanh chóng đi bộ trở lại
ngay khi có thể để đảm bảo quãng đường đi được là dài nhất có thể. Bạn có thể
dừng hẳn nếu thấy không đủ sức tiếp tục
đi".
Sau
dó kỹ thuật viên sẽ đi bộ mẫu một vòng cho bệnh nhân
xem.
8.
Cho bệnh nhân đứng tại vị trí xuất phát. Kỹ thuật viên cũng nên đứng gần vị trí
xuất phát trong quá trình thực hiện test. Không nên đi bộ cùng bệnh nhân. Bấm
giờ ngay khi bệnh nhân bắt đầu xuất
phát.
9.
Không nói chuyện với bệnh nhân trong quá trình thực hiện test. Tập trung theo
dõi bệnh nhân để đếm đúng sổ vòng bệnh nhân đi được. Khuyến khích bệnh nhân bằng
những câu đã được chuẩn hứa với giọng nói thích hợp, không nên sử dụng cụm từ
khác hoặc ngôn ngữ cơ thể để cổ vũ bệnh nhân trong quá trình đi bộ vì sẽ ảnh
hưởng đến quãng đường đi
được:
Sau
phút đầu tiên: “Bạn đã làm rất tốt, bạn còn 5 phút
nữa"
Sau
phút thứ hai : “Hãy tiếp tục đi bộ, bạn còn 4 phút
nữa"
Sau
phút thứ ba: “Bạn làm tốt lắm, bạn đã hoàn thành được nửa thời
gian"
Sau
phút thứ tư: “Hãy tiếp tục việc đi bộ của bạn, bạn chỉ còn hai phút
nữa”.
Sau
phút thứ năm: “Bạn đang làm rất tốt, bây giờ bạn chỉ còn 1 phút nữa
thôi"
Nếu
bệnh nhân thấy cần dừng lại nghỉ trong khi thực hiện test, nói với bệnh nhân họ
có thể ngồi nghỉ nhưng hãy nhanh chóng đứng lên đi tiếp ngay khi có thể đồng
thời vẫn tiếp tục bấm giờ khi bệnh nhân ngồi nghỉ. Nếu bệnh nhân ngừng hẳn khi
chưa hết 6 phút, ghi vào bảng kiếm thời điểm dừng, lý do dừng đi bộ và quãng
đường đi
được.
Nếu
bệnh nhân vẫn tiếp tục đi, khi đồng hồ báo còn 15 giây, nhắc bệnh nhân như sau:
"Chỉ trong giây lát nữa tôi sẽ bảo bạn dừng đi bộ, ngay khi tôi nói hãy dừng lại
và đứng nguyên tại vị trí, tôi sẽ đi lại chỗ bạn
đứng".
Khi
đồng hồ hết giờ, ra hiệu cho bệnh nhân đứng lại đồng thời đi lại phía bệnh nhân
nếu thấy bệnh nhân quá mệt có thể mang cho bệnh nhân ghế ngồi. Đánh dấu vị trí
đứng của bệnh
nhân.
10.
Đánh giá lại mức độ mệt và mức độ khó thở dựa trên bảng điểm Borg, đồng thời hỏi
bệnh nhân "Có điều gì cản trở làm bệnh nhân không đi xa thêm
được”.
11.
Nếu có thiết bị đo độ bão hòa oxy, đo lại bão hòa oxy mao mạch và tần số tim của
bệnh nhân sau khi kết thúc
test.
12.
Ghi lại số vòng bệnh nhân đi được và quãng đường đi thêm được ở vòng cuối cùng,
quy ra số mét đi được trong 6
phút.
13. Chúc
mừng bệnh nhân đã cố gắng hoàn thành test và mời bệnh nhân uống nước nếu có nhu
cầu.
|
|
Không
cảm thấy khó
thở/mệt
|
|
|
Cảm thấy
khó thở/mệt rất rất
ít
|
|
|
Cảm thấy
khó thở/mệt rất
ít
|
|
|
|
|
|
Cảm thấy
khó thở/mệt mức độ trung
bình
|
|
|
Cảm thấy
khó thở/mệt hơi
nhiều
|
|
|
Cảm thấy
khó thở/mệt nhiều
|
|
|
|
|
|
Cảm thấy
khó thở/mệt rất
nhiều
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cảm thấy
khó thở/mệt rất
rất
|
Các
sai số trong quá trình thực hiện test nên cố gắng tránh càng nhiều càng tốt. Để
làm được điều này nên tuân thủ các tiêu chuẩn đã nêu trong quy trình thực hiện
test.
Bảng
3: Các sai số có thể gặp của test đi bộ 6
phút
Các yếu tố làm giảm
quãng đường đi được:
· Bệnh nhân thừa cân,
béo
phì
· Bệnh nhân có suy
giảm nhận
thức
· Hành lang đi bộ
ngắn hơn quy định (phải quay đầu
nhiều)
· Bệnh nhân bị bệnh
phổi mạn tính, hen phế quản, xơ nang phổi, bệnh phổi
kẽ.
· Bệnh nhân có bệnh
lý tim mạch: đau ngực, NMCT, suy tim, đột quị, bệnh động mạch ngoại
vi.
· Các bệnh lý cơ
xương: viêm khớp, chấn thương mắt cá, đầu gối, khớp háng, teo
cơ…
Các yếu
tố làm tăng quãng đường đi
được:
· Bệnh nhân đã từng
tham gia test đi bộ trước
đó
· Bệnh nhân có bệnh
nhưng đã được uống thuốc ngay trước khi thực hiện
test.
· Bệnh nhân có tình
trạng thiếu oxy khi gắng sức nhưng được cung cấp oxy đẩy
đủ.
|
Nếu
tiến hành test đi bộ thử, lần đi bộ thứ hai nên thực hiện sau lần đi thử ít nhất
1 giờ. Ở những bệnh nhân có thực hiện test đi bộ thử, quãng đường đi được lần
hai cao hơn so với lần 1 từ 0 - 17% (trung bình là 5,8%). Điêu này có thể lý
giải do bệnh nhân phối hợp tốt hơn, bớt hồi hộp lo lắng và tìm được tốc độ đi
thích
hợp.
Dựa
trên kết quả này, tại mỗi thời điểm đánh giá, nên cho bệnh nhân thực hiện test
hai lần và lấy kết quả của lần tốt hơn (thường là lần sau) vì phản ánh đúng hơn
khả năng gắng sức của bệnh
nhân.
Kinh
nghiệm của kỹ thuật
viên:
Kỹ
thuật viên hướng dẫn thực hiện test nên được đào tạo tiến hành test theo một quy
trình chuẩn và cần được giám sát trong những lần thực hiện test đầu tiên trước
khi tự hướng dẫn bệnh nhân một
mình.
Kết
quả một nghiên cứu đa trung tâm trên người cao tuổi cho thấy, sau khi đã loại bỏ
hết các yếu tố gây sai số, vẫn có hai kỹ thuật viên mà quãng đường trung bình đi
được của nhóm bệnh nhân do họ hướng dẫn thấp hơn 7% so với các kỹ thuật viên ở
các trung tâm
khác.
Khuyến
khích động viên bệnh
nhân
Nên
sử dụng những câu nói đã được chuẩn hóa vì những câu động viên khích lệ có ảnh
hưởng rất lớn đến quãng đường đi được của bệnh
nhân.
Nếu
bệnh nhân cần thở oxy hỗ trợ trong quá trình đi bộ, đồng thời bệnh nhân có kế
hoạch thực hiện test đi bộ nhiều lần sau mỗi đợt điều trị, nên cho bệnh nhân thở
oxy theo cùng một phương thức; cùng một liều lượng ở các lần test đi bộ. Trong
trường hợp bệnh nhân cần thở oxy liêu cao hơn do sự trao đổi oxy giảm sút, cần
ghi lại vào bảng theo dõi để phục vụ cho vấn đề phiên giải kết quả sau này, đồng
thời ghi chép loại phương tiện dự trữ oxy bệnh nhân sử dụng: bình oxy lỏng mang
theo người hay bình oxy phải kéo theo khi đi bộ oxy bơm liên tục hay ngắt quãng
bệnh nhân tự đẩy bình oxy hay kỹ thuật viên đi phía sau và đẩy bình oxy cho bệnh
nhân (không khuyến khích). Cần đo lại mạch và SpO2 sau khi thay đổi
chế độ thở oxy 10 phút. Đối với những bệnh nhân đợt cấp COPD hoặc bệnh phổi kẽ,
thở oxy hỗ trợ làm tăng quãng đường đi được. Nếu mang theo bình oxy nhưng không
sử dụng để thở làm giảm quãng đường đi được 14%. Ngược lại nếu mang theo bình
oxy để thở hỗ trợ làm tăng quãng đường đi được lên 20 -
35%.
Cần
ghi chép tỷ mỉ loại thuốc sử dụng, liều lượng, thời gian sử dụng trước khi tiến
hành test vì trong một số trường hợp dùng thuốc giãn phế quản ở bệnh nhân COPD
hoặc thuốc tim mạch ở bệnh nhân suy tim có thể làm cải thiện quãng đường đi được
trong 6
phút
Test
đi bộ 6 phút được chỉ định ở bệnh nhân tại thời điểm trước và sau can thiệp điều
trị, vì vậy câu hỏi đầu tiên cần trả lời sau hai test là bệnh nhân có cải thiện
rõ rệt về mặt lâm sàng
không.
Trong
điều kiện test được thực hiện đúng tiêu chuẩn do một kỹ thuật viên hướng dẫn và
có đi bộ thủ trướckhi thực hiện test cho thấy test có khả năng phản ánh khá
chính xác sự thay đổi về triệu chứng cơ năng. Cho đến khởi điểm hiện tại các
khuyến cáo vẫn nhất trí đánh giá dựa vào giá trị tuyệt đôi của quãng đường thay
đổi trướcvà sau điều trị để phản ánh hiệu quả điêu
trị.
Sự
thay đổi quãng đường trung bình đi được sau can thiệp điều
trị
Trong
một nghiên cứu, bệnh nhân COPD và bệnh phổi kẽ mạn tính được thở oxy hỗ trợ
4l/phút quãng đường đi được trong 6 phút tăng 95m (36%). Trong một nghiên cứu
quốc tế khác trên bệnh nhân COPD, dùng corticoid dạng hít làm tăng quãng đường
đi được lên 33m (8%). Tập thể dục và tập sức mạnh cơ hoành làm tăng quãng đường
đi được trong 6 phút ở bệnh nhân COPD lên 50m
(20%).
Trong
một nghiên cứu khác, phục hồi chức năng tim mạch ở bệnh nhân có các bệnh tim
khác nhau lam cải thiện quãng đường đi được 170m (15%). Nghiên cứu trên 25 bệnh
nhân già bị suy tim, dùng thuốc ức chế men chuyển (captopril 50mg/ngày) làm tăng
quãng đường di được lên 64m (39%) so với tăng 8% ở nhóm chỉ dùng giả
dược.
Phiên giải kết quả
khi sử dụng test đi bộ 6 phút đánh giá mức độ hoạt động thể lực tại một thời
điểm
Vẫn
chưa có nghiên cứu đầy đủ trên quần thể người khỏe mạnh sử dụng test đi bộ 6
phút. Trong một nghiên cứu, trên 117 nam giới khỏe mạnh, quãng đường trung bình
đi được trong 6 phút là 580m, giá trị thu được khi nghiên cứu trên 173 nữ giới
khỏe mạnh là 500m. Trong một nghiên cứu khác trên 51 người già khỏe mạnh quãng
đường trung bình đi được là 630m. Sự khác biệt về các đặc điểm của mẫu nghiên
cứu, mức độ và hình thức động viên trong quá trình người tham gia thực hiện test
đi bộ, chiều dài của hành lang đi bộ, số lần đã tham gia thực hiện test trướcđây
là các yếu tố góp phần tạo nên sự khác biệt về quãng đường đi được trong các
nghiên cứu. Tuổi, giới, chiều cao, cân nặng cũng ảnh hưởng độc lập tới quãng
đường đi được trong 6 phút ở người khỏe mạnh vì thế các yếu tố này cũng phải
được tính đến khi phiên giải kết quả. Các nhà nghiên cứu nên công bố các phương
trình tham khảo đánh giá quãng đường đi được trong 6 phút ở người binh thường
dựa trên các quy trình chuẩn đã được đề cập trướcđây trên cơ sở đó có được giá
trị chuẩn mang tính đại diện cho một quần thể rộng
lớn...
Khi
quãng đường đi được trong 6 phút quá ngắn so với giá trị bình thường cần tìm các
nguyên nhân có thể là nguyên nhân sự giảm quãng đường đi được này. Cần thực hiện
thêm các thăm dò sau để xác định nguyên nhân: đo chức năng hô hấp, chức năng
tim, chỉ số mắt cá - cánh tay, đo cơ lực, tình trạng dinh dưỡng, hoạt động của
hệ xương khớp và khả năng nhận
thức.
Test
đi bộ 6 phút là một thăm dò đơn giản, hiệu quả đánh giá khách quan khả năng hoạt
động thể lực trên bệnh nhân có bệnh lý trung bình đến nặng. Test được sử dụng
rộng rãi so sánh khả năng gắng sức trước và sau phẫu thuật, đánh giá sự đáp ứng
với can thiệp điều trị của các bệnh nhân bệnh lý tim mạch, hô hấp. Những khuyến
cáo nêu trên đây cung cấp các bước tiếp cận chuẩn để thực hiện test đi bộ 6 phút
với hi vọng test sẽ được ứng dụng rộng rãi trên lâm
sàng.
|