BS
Trần Hữu Hiền
Tóm
tắt
Bệnh
cơ tim đái tháo đường là một khái niệm đã được các nhà nội tiết và tim mạch chấp
nhận, để nói về các bất thường cấu trúc và chức năng cơ tim ở bệnh nhân đái tháo
đường ngoại trừ bệnh mạch vành và tăng huyết áp. Bệnh cơ tim đái tháo đường trải
qua ba giai đoạn, đi từ những thay đổi ở mức độ phân tử đến những rối loạn chức
năng và cấu trúc có thể phát hiện qua kỹ thuật hình ảnh. Sinh bệnh học và sinh
lý bệnh của bệnh cơ tim đái tháo đường vẫn chưa hiểu rõ hoàn toàn. Sự phát triển
của bệnh cơ tim đái tháo đường phụ thuộc nhiều yếu tố, bao gồm: tăng axit béo tự
do, sự stress oxy hóa, rối loạn hằng định nội môi canxi, tái cấu trúc chất nền
ngoại bào và rối loạn chức năng ty thể. Hai bước quan trọng trong chẩn đoán bệnh
cơ tim đái tháo đường đó là: phát hiện các bất thường của cơ tim và loại trừ các
nguyên nhân khác gây bệnh cơ tim. Siêu âm tim là kỹ thuật được dùng phổ biến và
tiện lợi trong chẩn đoán bệnh cơ tim đái tháo đường. Siêu âm Doppler mô cơ tim
là kỹ thuật đáng tin cậy hơn trong đánh giá rối loạn chức năng cơ tim. Sự thay
đổi nồng độ các dấu ấn sinh học ở tim có thể phản ánh sự trao đổi chất của cơ
tim và cấu trúc cơ tim. Ngoài ra, chụp cộng hưởng từ cũng là công cụ hình ảnh
rất tốt cho việc chẩn đoán các rối loạn về cấu trúc và chức năng của cơ tim.
Việc dự phòng và điều trị bệnh cơ tim đái tháo đường đặt trọng tâm vào kiểm soát
đường huyết ổn định và lâu
dài.
Abstract
Diabetic
cardiomyopathy is a concept that has been the diabetes and cardiovascular
communities embraced, to discuss the structural and functional abnormalities of
the myocardium in diabetic patients without coronary artery disease or
hypertension. Diabetic cardiomyopathy undergo three phases, going from the
changes in the molecular level to the dysfunction and the structure can be
detected through imaging techniques. Pathogenesis and pathophysiology of
diabetic cardiomyopathy have not been completely understood. The development of
diabetic cardiomyopathy depends several factors, including: increased the free
fatty acids, increased oxidative stress, disturbing in calcium homeostasis,
remodeling the extracellular matrix and dysfunctional mitochondria. Two crucial
steps in diagnosing diabetic cardiomyopathy are detection of myocardial
abnormalities and eliminate other causes of cardiomyopathy. Echocardiography is
the technique convenient and popular in diagnosing diabetic cardiomyopathy.
Myocardial tissue Doppler technique is more dependable in the evaluation of
myocardial dysfunction. The alteration the level of cardiac biomarkers can
reflect the metabolic and structural myocardium. Furthermore, magnetic resonance
imaging is advantageous imaging tools for investigating disorders of the
structural and functional myocardium. The prevention and treatment of diabetic
cardiomyopathy focuses on controlling blood glucose level is stable and
permanent.

1. Tổng
quan
Bệnh tim là vấn
đề sức khỏe lớn nhất trong các bệnh không lây mà con người gặp phải. Ở Hoa Kỳ
ước tính có khoảng 5 triệu người mắc suy tim, một hội chứng mà tiên lượng tử
vong 5 năm gần 50% [26]. Việc tăng tỷ
lệ lưu hành của đái tháo đường cũng góp một phần quan trọng vào sự gia tăng của
suy tim [7]. Nghiên cứu
Framingham và các nghiên cứu khác đã khẳng định đái tháo đường là yếu tố nguy cơ
mạnh cho tiên lượng tử vong và bệnh tật ở các bệnh nhân tim
mạch [31], [34], [36] đặc
biệt là ở phụ nữ [33]. Tỷ lệ lưu
hành của rối loạn chức năng tâm trương ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 đã ghi
nhận được lên đến 30% trong một số nghiên cứu [17], [42]. Vào những năm
thập niên 70, cộng đồng đái tháo đường và bệnh tim mạch đã chấp nhận khái niệm
bệnh cơ tim đái tháo đường (diabetic cardiomyopathy) khi tử thiết các bệnh nhân
đái tháo đường có bệnh thận [49]. Định nghĩa
hiện tại của bệnh cơ tim đái tháo đường bao gồm các bất thường cấu trúc và chức
năng cơ tim ở bệnh nhân đái tháo đường không có bệnh mạch vành và tăng huyết
áp [6].
2. Các giai đoạn
của bệnh cơ tim đái tháo
đường
Bệnh sử tự
nhiên của bệnh cơ tim đái tháo đường được chia làm ba giai đoạn, giai đoạn sớm
là đáp ứng sinh lý đối với những thay đổi chuyển hóa của đái tháo đường, giai
đoạn muộn là những quá trình thoái hóa dẫn đến tái cấu trúc cơ tim không thể sửa
chữa hoặc sửa chữa rất hạn chế [23].
Giai
đoạn
sớm
Bệnh
cơ tim đái tháo đường khởi đầu bằng sự tăng đường huyết và đặc trưng bởi sự rối
loạn chuyển hóa bao gồm giảm GLUT4 (glucose transporter type 4), tăng axit béo
tự do, giảm carnitine, thay đổi hằng định nội môi canxi và đề kháng insulin.
Giai đọan sớm, cấu trúc cơ tim thay đổi không đáng kể và rối loạn chức năng chỉ
có thể phát hiện bằng các phương pháp có độ nhạy tốt với kỹ thuật siêu âm
doppler mô cơ tim bao gồm: sức căng (strain), tỉ số sức căng (strain rate) và
vận tốc mô cơ tim (myocardial tissue velocity). Thay đổi chức năng nội môi xảy
ra ở giai đoạn
sớm.
Giai
đoạn trung
gian
Giai
đoạn này đặc trưng bởi phì đại và xơ hóa cơ tim. Những thay đổi cấp độ tế bào
như khiếm khuyết trong vận chuyển canxi và axit béo có thể dẫn đến tế bào cơ tim
tăng sự hoại tử, chết theo chương trình, tăng các chất: angiotensin II,
TGF-beta1 kết quả làm cho cơ tim bị tổn thương, chết và xơ hóa, bước đầu gây bất
thường dòng chảy van hai lá và giảm phân suất tống máu. Bệnh nhân giai đoạn này
có những thay đổi trong cấu trúc cơ tim (kích thước thất trái, độ dày thành và
khối lượng) và thay đổi đáng kể chức năng tâm thu và tâm trương có thể phát hiện
bằng siêu âm tim thông thường. Tổn thương hệ thống mạch máu cơ tim trong giai
đoạn này thường không đáng
kể.
Giai
đoạn
muộn
Trong
giai đoạn này đã có những thay đổi vi mạch cơ tim là do những thay đổi đáng kể
trong chuyển hóa và sự phát triển quá trình xơ hóa cơ tim. Đặc trưng của giai
đoạn này là thay đổi cấu trúc và chức năng của hệ thống vi mạch có thể kèm theo
sự co thắt vi mạch thường xuyên. Cấu trúc và chức năng cơ tim đã thay đổi rõ
ràng hơn. Tăng huyết áp và bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ cũng thường kết hợp với
bệnh cơ tim đái tháo đường trong giai đoạn
này.
3. Sinh bệnh học
và cơ chế phân
tử
3.1.
Những biến đổi trong chuyển
hóa
Hormon insulin
là trung tâm của sự kiểm soát trung gian ở tất cả tế bào, do đó insulin ảnh
hưởng sâu rộng trong chuyển hóa carbonhydrat và lipit toàn bộ cơ thể, cũng như
ảnh hưởng đáng kể trong chuyển hóa protein. Vì vậy, rối loạn tín hiệu insulin
ảnh hưởng rộng khắp và tàn phá nhiều mô trong cơ thể, bao gồm cả hệ thống tim
mạch [54].
Glucose và axit
béo tự do là hai nguồn cung cấp năng lượng chính cho tim. Tùy vào sự thích nghi
sinh lý và bệnh lý mà có sự chuyển đổi cung cấp năng lượng giữa hai nguồn này.
Khi nhịn đói, tim sẽ sử dụng axit béo tự do. Sau bữa ăn, khi có stress hoặc
thiếu máu cơ tim cục bộ, glucose trở thành năng lượng được sử dụng chủ yếu cho
tim. Tuy nhiên ở bệnh nhân đái tháo đường, tim sử dụng axit béo tự do như là
chất nền chuyển hóa với nồng độ cao và giảm sử dụng glucose đáng kể bởi vì sự đề
kháng insulin và tăng lipid máu [47]. Hậu quả của
việc này là giảm hiệu suất tim (cardiac efficiency), là tỷ số hoạt động tim trên
lượng oxy tiêu thụ của cơ tim, giảm hiệu suất tim đã được báo cáo trong một số
nghiên cứu trên người và động vật mắc đái tháo đường [4], [11], [19], [28].
Chuyên
chở glucose vào tế bào giảm khi giảm sự biển hiện của thụ thể GLUT 4 (glucose
transporter type 4) ở tế bào cơ tim làm xuất hiện sự đề kháng insulin. Điều này
dẫn đến giảm đường phân và oxy hóa glucose, đồng thời tăng quá trình oxy hóa
axit béo. Quá trình oxy hóa axit béo không chỉ được tăng cường bởi nồng độ axit
béo mà còn do sự kích hoạt thụ thể PPARα (peroxysomal proliferator activated
receptor alfa). Sự oxy hóa axit béo đòi hỏi cần nhiều oxy hơn chuyển hóa
glucose. Sự đường phân hiếu khí sẽ chuyển thành đường phân kỵ khí kết quả là
tích trữ ngày càng nhiều lactat và axit chuyển hóa. Các chất độc trung gian này
sẽ làm suy yếu sự hằng định nội môi ion canxi và sự co bóp cơ tim. Tăng chuyên
chở axit béo tự do cũng làm tích trữ lipit trong tế nào cơ
tim.
3.2.
Sự stress oxy
hóa
Sự oxy hóa tái
hoạt loài (reactive oxygen species - ROS) gây ra sự oxy hóa các phân tử sinh học
gồm protein và axit nucleic. Sự tăng quá mức các sản phẩm ROS liên quan đến phì
đại, xơ hóa, rối loạn chức năng co bóp của cơ tim và suy
tim [51]. Một nghiên
cứu tiến hành ở chuột đã cung cấp bằng chứng mạnh mẽ rằng Nox4 là một nguồn ROS
quan trọng trong tâm thất trái, và Nox4 góp phần cho bệnh cơ tim ở giai đoạn
đầu của đái tháo đường type 1 [52]. Hệ thống thu
dọn ROS đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc làm giảm rối loạn chức năng
của tim do đái tháo đường, tăng nồng độ metallothionein, catalase và superoxide
dismutase mangan, giảm suy thoái chức năng cơ tim và cải thiện chức năng tâm
trương ở động vật [52].
3.3.
Rối loạn cân bằng
canxi
Kiểm soát chính
xác hằng định nội môi canxi là trung tâm của sự điều hòa chức năng và tăng
trưởng của cơ tim [10]. Trong mỗi
nhịp tim, canxi được đưa vào cơ tim thông qua kênh canxi L-type. Khi đó nồng độ
canxi nội bào tăng lên làm phóng thích canxi từ hệ thống lưới nội cơ tương vào
trong nội bào qua kênh bài tiết canxi (còn gọi là ryanodine receptor channels).
Ion canxi sẽ tương tác với các troponin gây co cơ tim. Sau đó, hệ thống lưới nội
cơ tương sẽ bắt lấy canxi thông qua kênh SERCA (sarco/endoplasmic reticulum
Ca2+ -ATPase) làm giảm nồng độ canxi trong nội bào và
gây giãn cơ
tim.
Hằng định nội
môi canxi thay đổi khi có sự giảm hoạt động của các kênh canxi: SERCA, Na/Ca
exchanger và Ca ATPase. Một nghiên cứu cho thấy các con chuột bị đái tháo đường
type 1 và type 2 đều giảm biểu hiện của thụ thể ryanodine và giảm sự thoát canxi
từ bào tương cơ tim [43]. Sự giảm biểu
hiện của kênh SERCA làm suy giảm sự thư giãn và tăng thời gian điện thế động,
điều này có tương quan với kết quả lâm sàng của rối loạn chức năng tâm
trương [53].
3.4.
Tái cấu trúc chất nền ngoại
bào
Tăng đường huyết dường như là yếu tố trung tâm trong sinh bệnh học của bệnh cơ
tim đái tháo đường. Tiếp xúc kéo dài với glucose làm cho protein hình thành
chuỗi phản ứng phi enzyme, để rồi hình thành sản phẩm cuối cùng là AGEs
(advanced glycosylation end products). Các AGEs là một dạng ổn định của collagen
liên kết ngang và có lẽ chúng chịu trách nhiệm về độ cứng của động mạch và cơ
tim, rối loạn chức năng nội mô và hình thành mảng xơ vữa động mạch. Mối tương
quan dương tính giữa nồng độ AGEs huyết thanh với thời gian giãn đồng thể tích
tâm thất, độ cứng động mạch và độ dày nội mạc động mạch cảnh đã được ghi nhận ở
bệnh nhân đái tháo đường [9], [39], [56].
Chiến lược để ngăn chặn sự hình thành AGEs, kích hoạt các thụ AGEs hoặc phá vỡ
các AGEs-protein liên kết chéo đã được đề xuất như là liệu pháp tiềm năng để làm
nhẹ bớt những ảnh hưởng gây bệnh của AGEs trên chức năng cơ tim trong đái tháo
đường. Điều trị bằng aminoguanidine, một chất ức chế sự hình thành AGE giúp ngăn
ngừa sự tiến triển của rối loạn chức năng tâm thất ở chuột mắc đái tháo
đường [55].
3.5.
Rối loạn chức năng ty
thể
Rối loạn chức
năng ty thể góp phần vào sự tiến triển của đái tháo đường và bệnh cơ tim đái
tháo đường [20]. Thay đổi hoặc
mất cân bằng trong chuyển hóa năng lượng trong ty thể cơ tim đã được ghi nhận là
yếu tố quan trọng trong sinh bệnh học của bệnh cơ tim đái tháo
đường [13]. Dù thế nào,
cơ chế rối loạn chức năng ty thể vào bệnh sinh đái tháo đường vẫn chưa hiểu rõ.
Một giả định về sản sinh ROS ở ty thể liên quan đến tăng đường huyết đã được đưa
ra. Tăng sản sinh ROS trong quá trình oxy hóa axit béo gây ra sự tích tụ của ROS
và stress oxy hóa, hậu quả là tổn thương tế bào [4], [11], [19], [28]. Trong nghiên
cứu của Nakamura và đồng sự đã báo cáo rằng p53 góp phần rối loạn chức năng tim
mạch trong bệnh đái thái đường bằng cách thúc đẩy tiêu thụ oxy của ty thể, sản
xuất ROS, và tích tụ lipid [41].
4.
Chẩn đoán bệnh cơ tim đái tháo
đường
Hai
bước quan trọng trong chẩn đoán bệnh cơ tim đái tháo đường đó là: phát hiện các
bất thường của cơ tim và loại trừ các nguyên nhân khác gây bệnh cơ tim. Một
thách thức quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh cơ tim đái tháo đường đó là
thiếu các hình ảnh mô học cơ tim. Việc sinh thiết cơ tim không được chỉ định
thường quy bởi tính chất xâm lấn của xét nghiệm này, trừ khi đang nghi ngờ và
cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý cơ tim khác như: bệnh cơ tim phì đại,
bệnh cơ tim thâm nhiễm. Tuy nhiên nếu có sự xuất hiện xơ hóa cơ tim hay lắng
đọng collagen cơ tim thì đó là những đặc trưng của bệnh cơ tim đái tháo đường.
Ngoài ra, kính hiển vi điện tử có thể phát hiện các bất thường ở ty thể, lắng
đọng axit béo và cả phì đại cơ
tim.
Chẩn
đoán bệnh cơ tim đái tháo đường hiện tại chủ yếu dựa vào các kỹ thuật không xâm
lấn để chứng minh rối loạn chức năng cơ tim kèm theo các biểu hiện lâm sàng. Ở
các bệnh nhân có biểu hiện suy tim rõ rệt, các đặc điểm về rối loạn chức năng và
cấu trúc cơ tim trên siêu âm thường cũng sẽ biểu hiện. Tuy nhiên khi triệu chứng
không rõ rệt (giai đoạn B của suy tim mạn tính theo Trường Môn Tim Mạch Hoa
Kỳ/Hội Tim Hoa Kỳ - ACC/AHA) thì một chẩn đoán hình ảnh học nên được thực
hiện.
4.1.
Siêu âm
tim
Siêu âm tim là một kỹ thuật tương đối rẻ tiền để đánh giá cấu trúc và chức năng
tim. Siêu âm Doppler qua van hai lá thường dùng để đánh giá chức năng tâm trương
thất trái. Siêu âm Doppler cũng đóng góp một phần quan trọng cho thấy sự xuất
hiện độc lập của bệnh cơ tim đái tháo đường [25]. Rối loạn chức
năng tâm trương thất trái (đánh giá bằng siêu âm doppler qua van hai lá) ghi
nhận được 47-75% ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 không triệu chứng và đã kiểm
soát tốt đường huyết với huyết áp bình thường [12], [44], [57]. Chức năng tâm
thu thất trái cũng suy giảm do đái tháo đường, mặc dù tỷ lệ có thể thấp hơn so
với các rối loạn chức năng tâm trương. Trong một vài trường hợp, nhưng không
phải tất cả các nghiên cứu trong y văn, bệnh nhân đái tháo đường có chỉ số phân
suất co rút (fractional shortening) thất trái và co rút giữa thành (midwall
shortening) thấp hơn so với những người dung nạp glucose bình
thường [8], [16], [30].
Dù sao, siêu âm
thông thường cũng có hạn chế về độ nhạy và độ chuyên biệt so với siêu âm Doppler
mô (Tissue Doppler imaging) [40], một kỹ thuật
mới hơn có thể đo được vận tốc của mô cơ tim trong suốt chu chuyển tim và có thể
đánh giá chức năng tâm thu và tâm trương cơ tim toàn bộ hoặc từng vùng. Các tác
giả Kosmala [37] và
Di Bonito [18] đã
báo cáo rằng E' thì thấp hơn đáng kể ở những bệnh nhân đái tháo đường mà không
tăng huyết áp so với người bình
thường.
4.2
Dấu ấn sinh học ở
tim
Sự thay đổi
nồng độ các dấu ấn sinh học ở tim có thể phản ánh sự trao đổi chất của cơ tim và
cấu trúc cơ tim. Mối tương quan giữa biến đổi protein chất nền ngoại bào và sự
tiến triển tái cấu trúc ở tim đã được ghi nhận [15].
Metalloproteinase Matrix (MMPs) là enzym phân hủy chất nền ngoại bào, tăng
chuyển hóa chất nền và thay đổi biểu hiện một số micro-Ribonucleic Acids
(mi-RNAs) dẫn đến rối loạn chức năng co bóp cơ tim [14].
Aminoterminal
propeptide type III trong huyết thanh được cho là một chỉ dấu sớm của rối loạn
chức năng tâm thu ở các đối tượng béo phì có đề kháng
insulin [45]. Vai trò của
BNP cũng đã được bàn luận, ở bệnh nhân đái tháo đường không có triệu chứng suy
tim với nồng độ BNP >90 pg/ml có giá trị tiên đoán dương đến 96% cho rối loạn
chức năng thất trái khi đánh giá bằng siêu âm tim [21].
Troponin tim
(T, N và I) là những phân tử được phóng thích vào máu từ các cơ tim bị tổn
thương do thiếu máu cục bộ hoặc bệnh lý viêm. Nồng độ troponin T cao đã được tìm
thấy ở những đứa trẻ có rối loạn chức năng tim và bệnh cơ tim sinh ra từ các bà
mẹ bị đái tháo đường [50]. Tuy nhiên,
vai trò của troponin trong đánh giá bệnh cơ tim đái tháo đường ở người trưởng
thành vẫn chưa rõ
ràng.
miRNA là các
phân tử RNA nhỏ không mã hóa mà có vai trò điều chỉnh biểu hiện gen của tế bào.
Các rối loạn điều hòa của miRNA có liên quan đến bệnh đái tháo đường và các biến
chứng của nó. Mức độ thay đổi của miRNA đã được quan sát trong tế bào cơ
tim [24]. Những phân tử
mới này có lẽ là công cụ chẩn đoán và tiên lượng trong tương lai đối với bệnh
nhân bệnh cơ tim đái tháo
đường.
4.3.
Chụp cộng hưởng
từ
Chụp cộng hưởng
từ (MRI) gần đây đã nổi lên như một công cụ hình ảnh rất tốt cho việc chẩn đoán
các rối loạn về cấu trúc và chức năng của cơ tim [27]. MRI tim tăng
gadolinium hữu ích để dự đoán các biến cố tim chính, chẳng hạn như nhồi máu cơ
tim cấp tính, sự phát triển suy tim và rối loạn nhịp thất ở bệnh nhân đái tháo
đường không có tiền sử bệnh tim thiếu máu cục bộ [38]. MRI tim cũng
rất hữu ích để phát hiện rối loạn chức năng tâm trương và thâm nhiễm mỡ cơ tim
được ghi nhận ở các bệnh nhân có đái tháo đường type 2 so với nhóm đối
chứng [46].
5.
Dự phòng và điều
trị
Tăng đường
huyết được coi là yếu tố chính cho sự phát triển của bệnh cơ tim đái tháo đường.
Tăng đường huyết tạo ra sản phẩm AGEs, tích tụ collagen ở tim và stress oxy hóa.
Một nghiên cứu của Kiencke và công sự [35] tiến
hành ở người trưởng thành mắc bệnh đái tháo đường mà không có bất kỳ bằng chứng
của bệnh tim thực thể, tiết lộ rằng bệnh cơ tim đái tháo đường đã xuất hiện ở
48% số bệnh [35]. Số lượng AGEs
tích lũy trong cơ tim đã được tìm thấy là có liên quan với thời gian mắc bệnh.
Trong các nghiên cứu đoàn hệ quan sát và phân tích hồi cứu ở các bệnh nhân đăng
ký, sử dụng metformin có liên quan với tỷ lệ thấp mắc suy tim so với phác đồ
kiểm soát đường huyết khác [22]. Hơn nữa, kết
cục lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường có suy tim tốt hơn ở nhóm điều trị bằng
metformin [1], [5]. Ngược lại với
metformin, thiazolidinedione (TZD) đã được ghi nhận làm tăng tỷ lệ suy tim trong
bệnh đái tháo đường so với sulfonylurea. Kết quả từ hai thử nghiệm PROactive và
RECORD hỗ trợ các khuyến cáo từ Hôi Tim Hoa Kỳ và Hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ giúp
các bác sĩ lâm sàng đánh giá nguy cơ từng bệnh nhân trước khi bắt đầu dùng TZDs
và ngưng sử dụng TZD ở bệnh nhân suy tim có triệu
chứng [32].
Những lợi ích
của ức chế hoạt động của các hormon thần kinh bởi các thuốc ức chế men chuyển,
chẹn thụ thể angiotensin và thuốc chẹn bêta đã được chứng minh trong bệnh cơ tim
đái tháo đường [2], [3], [48]. Một phân tích
gộp gồm 28 thử nghiệm nhóm beta-blockers cho thấy carvedilol, metoprolol,
bisoprolol đã làm giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và đột tử ở những bệnh
nhân suy tim. Metoprolol là nổi bật trong việc giảm đột tử, so với carvedilol
hoặc bisoprolol [29].
Tài
liệu tham
khảo
1.
D. Aguilar, W. Chan, B. Bozkurt, K. Ramasubbu, A. Deswal (2011) "Metformin use
and mortality in ambulatory patients with diabetes and heart
failure". Circ Heart Fail, 4 (1),
53-8.
2. A. I.
Al-Shafei, R. G. Wise, G. A. Gresham, G. Bronns, T. A. Carpenter, L. D. Hall, C.
L. Huang (2002) "Non-invasive magnetic resonance imaging assessment of
myocardial changes and the effects of angiotensin-converting enzyme inhibition
in diabetic rats". J Physiol,538 (Pt 2), 541-53.
3. A. I.
Al-Shafei, R. G. Wise, G. A. Gresham, T. A. Carpenter, L. D. Hall, C. L. Huang
(2002) "Magnetic resonance imaging analysis of cardiac cycle events in diabetic
rats: the effect of angiotensin-converting enzyme inhibition". J
Physiol, 538 (Pt 2), 555-72.
4. D. An,
B. Rodrigues (2006) "Role of changes in cardiac metabolism in development of
diabetic cardiomyopathy". Am J Physiol Heart Circ
Physiol, 291 (4), H1489-506.
5. C.
Andersson, J. B. Olesen, P. R. Hansen, P. Weeke, M. L. Norgaard, C. H.
Jorgensen, T. Lange, S. Z. Abildstrom, T. K. Schramm, A. Vaag, L. Kober, C.
Torp-Pedersen, G. H. Gislason (2010) "Metformin treatment is associated with a
low risk of mortality in diabetic patients with heart failure: a retrospective
nationwide cohort study". Diabetologia, 53
(12), 2546-53.
6. A.
Aneja, W. H. Tang, S. Bansilal, M. J. Garcia, M. E. Farkouh (2008) "Diabetic
cardiomyopathy: insights into pathogenesis, diagnostic challenges, and
therapeutic options". Am J Med,121 (9), 748-57.
7. Pavan
K. Battiprolu, Zhao V. Wang, Joseph A. Hill (2015) Diabetic Cardiomyopathy:
Mediators and Mechanisms. Diabetes in Cardiovascular Disease: A
Companion to Braunwald's Heart Disease. 1st ed.
Saunders, Philadelphia, 290.
8. J. N.
Bella, R. B. Devereux, M. J. Roman, V. Palmieri, J. E. Liu, M. Paranicas, T. K.
Welty, E. T. Lee, R. R. Fabsitz, B. V. Howard (2001) "Separate and joint effects
of systemic hypertension and diabetes mellitus on left ventricular structure and
function in American Indians (the Strong Heart Study)". Am J
Cardiol, 87 (11), 1260-5.
9. T. J.
Berg, O. Snorgaard, J. Faber, P. A. Torjesen, P. Hildebrandt, J. Mehlsen, K. F.
Hanssen (1999) "Serum levels of advanced glycation end products are associated
with left ventricular diastolic function in patients with type 1
diabetes". Diabetes Care, 22 (7),
1186-90.
10. M. J.
Berridge, M. D. Bootman, H. L. Roderick (2003) "Calcium signalling: dynamics,
homeostasis and remodelling". Nat Rev Mol Cell
Biol, 4 (7), 517-29.
11. S.
Boudina, E. D. Abel (2010) "Diabetic cardiomyopathy, causes and
effects". Rev Endocr Metab Disord,11 (1), 31-9.
12. J. K.
Boyer, S. Thanigaraj, K. B. Schechtman, J. E. Perez (2004) "Prevalence of
ventricular diastolic dysfunction in asymptomatic, normotensive patients with
diabetes mellitus". Am J Cardiol, 93 (7),
870-5.
13. H.
Bugger, E. D. Abel (2010) "Mitochondria in the diabetic
heart". Cardiovasc Res, 88 (2),
229-40.
14. V.
Chavali, S. C. Tyagi, P. K. Mishra (2013) "Predictors and prevention of diabetic
cardiomyopathy". Diabetes Metab Syndr Obes, 6,
151-60.
15. A.
D'Souza, F. C. Howarth, J. Yanni, H. Dobryznski, M. R. Boyett, E. Adeghate, K.
R. Bidasee, J. Singh (2011) "Left ventricle structural remodelling in the
prediabetic Goto-Kakizaki rat". Exp Physiol, 96
(9), 875-88.
16. R. B.
Devereux, M. J. Roman, M. Paranicas, M. J. O'Grady, E. T. Lee, T. K. Welty, R.
R. Fabsitz, D. Robbins, E. R. Rhoades, B. V. Howard (2000) "Impact of diabetes
on cardiac structure and function: the strong heart
study". Circulation, 101 (19),
2271-6.
17. P. Di
Bonito, S. Cuomo, N. Moio, G. Sibilio, D. Sabatini, S. Quattrin, B. Capaldo
(1996) "Diastolic dysfunction in patients with non-insulin-dependent diabetes
mellitus of short duration". Diabet Med, 13
(4), 321-4.
18. P. Di
Bonito, N. Moio, L. Cavuto, G. Covino, E. Murena, C. Scilla, S. Turco, B.
Capaldo, G. Sibilio (2005) "Early detection of diabetic cardiomyopathy:
usefulness of tissue Doppler imaging". Diabet
Med, 22 (12), 1720-5.
19. J. S.
Dobrin, D. Lebeche (2010) "Diabetic cardiomyopathy: signaling defects and
therapeutic approaches". Expert Rev Cardiovasc
Ther, 8 (3), 373-91.
20. J. G.
Duncan (2011) "Mitochondrial dysfunction in diabetic
cardiomyopathy". Biochim Biophys Acta, 1813
(7), 1351-9.
21. V.
Epshteyn, K. Morrison, P. Krishnaswamy, R. Kazanegra, P. Clopton, S. Mudaliar,
S. Edelman, R. Henry, A. Maisel (2003) "Utility of B-type natriuretic peptide
(BNP) as a screen for left ventricular dysfunction in patients with
diabetes". Diabetes Care, 26 (7),
2081-7.
22. D. T.
Eurich, F. A. McAlister, D. F. Blackburn, S. R. Majumdar, R. T. Tsuyuki, J.
Varney, J. A. Johnson (2007) "Benefits and harms of antidiabetic agents in
patients with diabetes and heart failure: systematic
review". Bmj, 335 (7618), 497.
23. Z. Y.
Fang, J. B. Prins, T. H. Marwick (2004) "Diabetic cardiomyopathy: evidence,
mechanisms, and therapeutic implications". Endocr
Rev, 25 (4), 543-67.
24. B.
Feng, S. Chen, B. George, Q. Feng, S. Chakrabarti (2010) "miR133a regulates
cardiomyocyte hypertrophy in diabetes". Diabetes Metab Res
Rev, 26 (1), 40-9.
25. M.
Galderisi (2006) "Diastolic dysfunction and diabetic cardiomyopathy: evaluation
by Doppler echocardiography". J Am Coll
Cardiol, 48 (8), 1548-51.
26. A. S.
Go, D. Mozaffarian, V. L Roger et al (2014) "Heart disease and stroke
statistics--2014 update: a report from the American Heart
Association". Circulation,129 (3), e28-e292.
27. I.
Gottlieb, R. Macedo, D. A. Bluemke, J. A. Lima (2006) "Magnetic resonance
imaging in the evaluation of non-ischemic cardiomyopathies: current applications
and future perspectives". Heart Fail Rev, 11
(4), 313-23.
28. S. A.
Hayat, B. Patel, R. S. Khattar, R. A. Malik (2004) "Diabetic cardiomyopathy:
mechanisms, diagnosis and treatment". Clin Sci
(Lond), 107 (6), 539-57.
29. Y. M.
He, X. J. Yang, X. Zhao, X. J. Cheng, H. F. Xu, Y. X. Qian, X. Li (2012)
"beta-Blockers in heart failure: benefits of beta-blockers according to varying
male proportions of study patients". Clin
Cardiol, 35 (8), 505-11.
30. S. R.
Heckbert, W. Post, G. D. Pearson, D. K. Arnett, A. S. Gomes, M. Jerosch-Herold,
W. G. Hundley, J. A. Lima, D. A. Bluemke (2006) "Traditional cardiovascular risk
factors in relation to left ventricular mass, volume, and systolic function by
cardiac magnetic resonance imaging: the Multiethnic Study of
Atherosclerosis". J Am Coll Cardiol, 48 (11),
2285-92.
31. S.
Heyden, G. Heiss, A. G. Bartel, C. G. Hames (1980) "Sex differences in coronary
mortality among diabetics in Evans County, Georgia". J Chronic
Dis, 33 (5), 265-73.
32. P. D.
Home, S. J. Pocock, H. Beck-Nielsen, P. S. Curtis, R. Gomis, M. Hanefeld, N. P.
Jones, M. Komajda, J. J. McMurray (2009) "Rosiglitazone evaluated for
cardiovascular outcomes in oral agent combination therapy for type 2 diabetes
(RECORD): a multicentre, randomised, open-label
trial". Lancet, 373 (9681),
2125-35.
33. B. V.
Howard, L. D. Cowan, O. Go, T. K. Welty, D. C. Robbins, E. T. Lee (1998)
"Adverse effects of diabetes on multiple cardiovascular disease risk factors in
women. The Strong Heart Study". Diabetes
Care, 21 (8), 1258-65.
34. W. B.
Kannel, D. L. McGee (1979) "Diabetes and glucose tolerance as risk factors for
cardiovascular disease: the Framingham study". Diabetes
Care, 2 (2), 120-6.
35. S.
Kiencke, R. Handschin, R. von Dahlen, J. Muser, H. P. Brunner-Larocca, J.
Schumann, B. Felix, K. Berneis, P. Rickenbacher (2010) "Pre-clinical diabetic
cardiomyopathy: prevalence, screening, and outcome". Eur J Heart
Fail, 12 (9), 951-7.
36. J. C.
Kleinman, R. P. Donahue, M. I. Harris, F. F. Finucane, J. H. Madans, D. B. Brock
(1988) "Mortality among diabetics in a national sample". Am J
Epidemiol, 128 (2), 389-401.
37. W.
Kosmala, W. Kucharski, M. Przewlocka-Kosmala, W. Mazurek (2004) "Comparison of
left ventricular function by tissue Doppler imaging in patients with diabetes
mellitus without systemic hypertension versus diabetes mellitus with systemic
hypertension". Am J Cardiol, 94 (3),
395-9.
38. R. Y.
Kwong, H. Korlakunta (2008) "Diagnostic and prognostic value of cardiac magnetic
resonance imaging in assessing myocardial viability". Top Magn
Reson Imaging, 19 (1), 15-24.
39. A.
Lapolla, F. Piarulli, G. Sartore, A. Ceriello, E. Ragazzi, R. Reitano, L.
Baccarin, B. Laverda, D. Fedele (2007) "Advanced glycation end products and
antioxidant status in type 2 diabetic patients with and without peripheral
artery disease". Diabetes Care,30 (3), 670-6.
40. T.
Miki, S. Yuda, H. Kouzu, T. Miura (2013) "Diabetic cardiomyopathy:
pathophysiology and clinical features". Heart Fail
Rev, 18 (2), 149-66.
41. H.
Nakamura, S. Matoba, E. Iwai-Kanai, M. Kimata, A. Hoshino, M. Nakaoka, M.
Katamura, Y. Okawa, M. Ariyoshi, Y. Mita, K. Ikeda, M. Okigaki, S. Adachi, H.
Tanaka, T. Takamatsu, H. Matsubara (2012) "p53 promotes cardiac dysfunction in
diabetic mellitus caused by excessive mitochondrial respiration-mediated
reactive oxygen species generation and lipid accumulation". Circ
Heart Fail,5 (1), 106-15.
42. A.
Nicolino, G. Longobardi, G. Furgi, M. Rossi, N. Zoccolillo, N. Ferrara, F. Rengo
(1995) "Left ventricular diastolic filling in diabetes mellitus with and without
hypertension". Am J Hypertens, 8 (4 Pt 1),
382-9.
43. L.
Pereira, J. Matthes, I. Schuster, H. H. Valdivia, S. Herzig, S. Richard, A. M.
Gomez (2006) "Mechanisms of [Ca2+]i transient decrease in cardiomyopathy of
db/db type 2 diabetic mice". Diabetes,55 (3),
608-15.
44. P.
Poirier, P. Bogaty, C. Garneau, L. Marois, J. G. Dumesnil (2001) "Diastolic
dysfunction in normotensive men with well-controlled type 2 diabetes: importance
of maneuvers in echocardiographic screening for preclinical diabetic
cardiomyopathy". Diabetes Care, 24 (1),
5-10.
45. D.
Quilliot, F. Alla, P. Bohme, J. F. Bruntz, M. Hammadi, B. Dousset, O. Ziegler,
F. Zannad (2005) "Myocardial collagen turnover in normotensive obese patients:
relation to insulin resistance". Int J Obes
(Lond), 29 (11), 1321-8.
46. L. J.
Rijzewijk, R. W. van der Meer, J. W. Smit, M. Diamant, J. J. Bax, S. Hammer, J.
A. Romijn, A. de Roos, H. J. Lamb (2008) "Myocardial steatosis is an independent
predictor of diastolic dysfunction in type 2 diabetes
mellitus". J Am Coll Cardiol, 52 (22),
1793-9.
47. B.
Rodrigues, M. C. Cam, J. H. McNeill (1998) "Metabolic disturbances in diabetic
cardiomyopathy". Mol Cell Biochem, 180 (1-2),
53-7.
48. R.
Rosen, A. F. Rump, P. Rosen (1995) "The ACE-inhibitor captopril improves
myocardial perfusion in spontaneously diabetic (BB)
rats". Diabetologia, 38 (5),
509-17.
49. S.
Rubler, J. Dlugash, Y. Z. Yuceoglu, T. Kumral, A. W. Branwood, A. Grishman
(1972) "New type of cardiomyopathy associated with diabetic
glomerulosclerosis". Am J Cardiol,30 (6),
595-602.
50. N. E.
Russell, M. F. Higgins, M. Amaruso, M. Foley, F. M. McAuliffe (2009) "Troponin T
and pro-B-type natriuretic Peptide in fetuses of type 1 diabetic
mothers". Diabetes Care,32 (11), 2050-5.
51. M.
Seddon, Y. H. Looi, A. M. Shah (2007) "Oxidative stress and redox signalling in
cardiac hypertrophy and heart
failure". Heart, 93 (8), 903-7.
52. X.
Shen, S. Zheng, N. S. Metreveli, P. N. Epstein (2006) "Protection of cardiac
mitochondria by overexpression of MnSOD reduces diabetic
cardiomyopathy". Diabetes, 55 (3),
798-805.
53. M. H.
Shishehbor, B. J. Hoogwerf, P. Schoenhagen, S. P. Marso, J. P. Sun, J. Li, A. L.
Klein, J. D. Thomas, M. J. Garcia (2003) "Relation of hemoglobin A1c to left
ventricular relaxation in patients with type 1 diabetes mellitus and without
overt heart disease". Am J Cardiol, 91 (12),
1514-7, a9.
54. M. F.
White (2003) "Insulin signaling in health and
disease". Science, 302 (5651),
1710-1.
55. M. S.
Wu, J. T. Liang, Y. D. Lin, E. T. Wu, Y. Z. Tseng, K. C. Chang (2008)
"Aminoguanidine prevents the impairment of cardiac pumping mechanics in rats
with streptozotocin and nicotinamide-induced type 2
diabetes". Br J Pharmacol, 154 (4),
758-64.
56. N.
Yoshida, K. Okumura, Y. Aso (2005) "High serum pentosidine concentrations are
associated with increased arterial stiffness and thickness in patients with type
2 diabetes". Metabolism,54 (3), 345-50.
57. M.
Zabalgoitia, M. F. Ismaeil, L. Anderson, F. A. Maklady (2001) "Prevalence of
diastolic dysfunction in normotensive, asymptomatic patients with
well-controlled type 2 diabetes mellitus". Am J
Cardiol, 87 (3), 320-3.